Nhà thơ Vũ Quần Phương: Mạch thơ và sự hô ứng trong tứ tuyệt

 

Nguồn: http://timtrongkhobau.vnweblogs.com

Thoạt tiên, tứ tuyệt được hiểu là bốn câu thơ hay nhất (tuyệt) được trích từ một bài thất ngôn bát cú. Người ta có thể lấy hai câu đầu ghép với hai câu cuối hoặc lấy 4 câu giữa trong một bài thơ bát cú để làm thành một bài tứ tuyệt. Nhưng sau này, cứ thơ có 4 câu thì người ta gọi là thơ tứ tuyệt, không nhất thiết phải là câu thơ 7 chữ (thất ngôn) mà có thể là 4 câu thơ 5 chữ, 2 câu lục bát cũng gọi là thơ tứ tuyệt. Như vậy, theo thời gian, chữ tứ tuyệt đã có những biến chuyển về ngữ nghĩa trong cách hiểu của người đọc.

Mạch thơ

Cái hay trước hết của tứ tuyệt nằm ở mạch thơ khá nhanh. Nếu trong các thể loại thơ khác, mạch thơ có thể lúc vui, lúc buồn, lúc nhanh, lúc chậm, nhưng với riêng tứ tuyệt, tốc độ đi từ câu thơ sang câu khác là tương đương nhau. Chúng ta sẽ thấy điều này qua bài thơ tứ tuyệt Áo đỏ của nhà thơ Vũ Quần Phương.

“Áo đỏ em đi giữa phố đông

Cây xanh như cũng ánh theo hồng

Em đi lửa cháy trong bao mắt

Anh đứng thành tro em biết không?”

Câu thơ đầu tiên “Áo đỏ em đi giữa phố đông” như một lời giới thiệu nhân vật, một cô gái mặc áo đỏ trong môi trường là “giữa phố đông”. Đề tài của bài thơ được tập trung ngay từ câu đầu tiên là “áo đỏ”. Tuy nhiên, mạch chuyển sang câu thơ thứ hai đã được mở rộng thêm sang phía thiên nhiên với “Cây xanh như cũng ánh theo hồng”. Cây xanh ở đây đại diện cho thiên nhiên, và cây vốn dĩ có màu xanh, nhưng rồi khi cô gái mặc áo đỏ đi qua, ta thấy, cái cây ấy, cũng là cái thiên nhiên ấy đã bị chi phối bởi màu áo đỏ ra sao. Đến câu thơ thứ ba, ta thấy “tầm ảnh hưởng” của cái màu áo đỏ ấy đã tiếp tục lan rộng từ thiên nhiên tới con người nói chung: “Em đi lửa cháy trong bao mắt”. Ở đây, ta cần lưu ý thêm một chút về bối cảnh ra đời của bài thơ Áo đỏ. Bài thơ này ra đời sau chiến tranh, khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất, nhưng tất cả đều còn đang rất ngổn ngang, bề bộn. Và trên phố Khâm Thiên, trong một trưa ngày thường, giữa những màu áo xanh cỏ úa của quần áo bộ đội, màu xanh của quần áo người thợ và màu ka ki của quần áo cán bộ, bỗng nhiên có một cô áo đỏ xuất hiện, và điều đó không thể không gây chú ý với tất cả mọi người. Và và màu đỏ cũng rất gần với màu lửa nên “em đi lửa cháy trong bao mắt” là vì thế. Cho đến cuối cùng, tốc độ câu thơ lại chuyển tiếp tới một nấc nữa là chuyển sang tâm trạng tác giả. Người viết đã dụng ý miêu tả sự chuyển biến cảm xúc với một ấn tượng về cô áo đỏ từ hàng cây (thiên nhiên) đến con người nói chung, và sau cùng là đến tác giả: “Anh đứng thành tro em biết không?” Ở đây, có thể thấy, bên cạnh một mạch thơ xuyên suốt, người làm thơ tứ tuyệt còn phải dụng công để tạo nên một cái tứ đặc trưng, cô đọng trong bài thơ. Nhà thơ Vũ Quần Phương đã nhìn ra cái tứ đó từ cái mạch tăng tiến của độ ảnh hưởng. Từ hình ảnh của cô gái mặc áo đỏ đi giữa phố đông, hàng cây thì “ánh theo hồng”, những người khác thì “lửa cháy trong mắt”, còn tác giả, cái tôi trữ tình phải ở một cấp độ cao hơn nữa: “thành tro”. Chính các tầng bậc trong cấp độ “ảnh hưởng” của cảm xúc đó đã làm nên sự thú vị của bài thơ. Tuy nhiên, các tầng bậc này cũng phải được xây dựng trên một sự tương hợp về hình ảnh. Phải là áo đỏ thì mới có sự liên hệ với ngọn lửa, tiếp đó mới có “ánh”, mới có “lửa cháy” và sau cùng, mới có “thành tro”.

Sự hô ứng

Một điểm cũng rất quan trọng trong thơ tứ tuyệt là sự hô ứng giữa các câu. Để hiểu rõ hơn về điều này, chúng ta cùng tìm hiểu một bài thơ tứ tuyệt khác của ông, bài Trăng và sương:

“Dưới trăng sương sáng như mây

Sương mờ mịt tỏa trăng ngây ngất nhòa

Hỡi em núi thẳm rừng xa

Trăng soi một buổi sương sa một đời”

Hai câu đầu tả cảnh thiên nhiên. Dưới ánh trăng, sương được rọi sáng như mây, và vì sương mờ mịt nên nhìn qua sương, trăng cũng mờ mịt, không còn trong veo nữa. Với thơ tứ tuyệt, sau chuyện thiên nhiên bao giờ cũng là chuyện của con người, do đó, hai câu tiếp theo tuy vẫn nói chuyện trăng, sương, nhưng thực ra lại là chuyện của con người: “Hỡi em núi thẳm rừng xa – Trăng soi một buổi sương sa một đời”. Nếu “Trăng soi một buổi” ý nói một khoảnh khắc hạnh phúc, vui vẻ trong cuộc đời thì “sương sa một đời” lại có ý vị ngậm ngùi. Ở đây, ý tác giả muốn nói, để có hạnh phúc của “trăng soi một buổi” thì cũng phải có trách nhiệm với việc “sương sa một đời”, đó như là lẽ công bằng của cuộc sống. Trong thơ tứ tuyệt, thường có một câu chuyển ý, và câu chuyển ý này thường là câu thứ ba. Ở bài thơ này cũng vậy, câu chuyển là câu “Hỡi em núi thẳm rừng xa”, để chuyển từ việc nói về thiên nhiên, về trăng, về sương sang nói chuyện con người với việc “trăng soi một buổi sương sa một đời”.

Cũng là một bài thơ về sương, nhưng nhà thơ Vũ Quần Phương lại có cách khai thác một tứ khác mới hơn.

“Ngỡ hết đường đi, đi lại thấy

Con đường chỉ hiện lúc xe đi

Đất hóa thành cây mây hóa khói

Sau phía sương kia có những gì”.

Hai câu thơ đầu tiên chỉ để nói một ý, đó là cảm giác đi trong sương mù. Tuy nhiên nhà thơ cũng đã lồng ghép được vào đó những triết lý sống của cuộc đời. Vừa nói chuyện thực tiễn, nhưng lại vừa nói chuyện nhân sinh. “Ngỡ hết đường đi, đi lại thấy – Con đường chỉ hiện lúc xe đi”. Câu chuyển trong một bài thơ đầy tính triết lý này lại là một câu nói về thiên nhiên: “Đất hóa thành cây mây hóa khói”. Nhưng rồi đến câu thứ tư, cái ý vị nhân sinh lại trở lại trong bài “Sau phía sương kia có những gì”. Hành trình sống và trưởng thành của một con người cũng giống như con đường ta đi trong sương. Ta chỉ biết những chỗ ta đến mà chưa biết những chỗ chưa tới, nhưng cứ đi đi, cứ dấn bước mạnh dạn, ta sẽ có những trải nghiệm và nhận thức trên hành trình đó. Đọc bài thơ này, ta càng ý thức rõ hơn về vai trò chuyển tiếp, kết nối của câu thứ 3 trong bài thơ tứ tuyệt. Nếu câu này không uyển chuyển, dễ làm đứt đoạn mạch thơ xuyên suốt toàn bài.

Trong thơ tứ tuyệt, người đọc cũng cần phân biệt giữa đề tài và chủ đề. Đề tài hẹp hơn chủ đề. Ví dụ với bài thơ Áo đỏ, đề tài là câu chuyện về cái áo đỏ, nhưng chủ đề lại là một điều muốn nói lớn hơn, ở đây nghĩa là, muốn đạt được hạnh phúc, con người có dám chấp nhận thách thức, chấp nhận rủi ro không. Để chuyển từ đề tài sang chủ đề cần có một bước chuyển, và sự chuyển đó thường hay ở câu thứ ba trong bài. Làm thơ tứ tuyệt nhất thiết phải có cách dẫn dắt người đọc đi từ những chuyện cụ thể của đề tài đến những triết lý thuộc về nhân sinh quan ở đời. Đọc thơ tứ tuyệt giống như đọc một câu đố. Nó không giải thích tỉ mỉ như những bài thơ dài, nó cũng không đưa người đọc vào những cõi tình cảm hay những cõi suy tư đầy đặn như các bài thơ dài. Và chính đó làm nên sự độc đáo của thơ tứ tuyệt, vì nó đã làm một việc khó khăn giống như là “trói voi bỏ rọ”, nó buộc người đọc phải ngẫm ngợi, phải luận giải vấn đề theo cảm quan cá nhân. Quá trình này hệt như việc ta đem ngâm mộc nhĩ, thơ tứ tuyệt giống như thứ mộc nhĩ đã được phơi khô, quắt lại, và nếu muốn “ăn” được nó, ta phải đem nó thả vào suy nghĩ của ta, phải ngâm trong tâm hồn ta để nó nở ra trong suy nghĩ và cảm nhận của mỗi người.

Dương Kim Thoa (chấp bút)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: